Vụ án cô giáo Nguyễn Thị Bình và chiêu câu giờ: Vì sao Tòa không dám tuyên vô tội?

Phán quyết của Tòa án Nhân dân cấp phúc thẩm ngày 14/9/2026, đối với cựu Hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình đã diễn ra như một kịch bản “cố ý” né tránh trách nhiệm mà giới quan sát đã cảnh báo từ trước. 

Quyết định “hủy án để điều tra lại” đã được tuyên, nhưng đồng thời mở ra một chương mới đầy chua chát cho một vụ án bị kéo dài kỷ lục suốt 13 năm. 

Đây thực chất chỉ là một màn “chối bỏ” trách nhiệm của hệ thống tư pháp cấp cơ sở, sử dụng kỹ thuật tố tụng để bao che cho những sai lầm và tiếp tục hủy hoại danh dự của nạn nhân trong vòng lặp tố tụng vô tận.

Vụ án xuất phát từ việc thu tiền dạy thêm – một quan hệ dân sự dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa nhà trường và phụ huynh, nhưng đã bị cố tình hình sự hóa. Suốt 13 năm trôi qua với 6 lần trả hồ sơ, danh dự và cuộc đời của cựu hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình đã bị treo lơ lửng. 

Tuy nhiên, việc cố tình kéo dài thời gian tố tụng như vậy lại cho thấy sự bế tắc của các cơ quan tố tụng địa phương. Đó là, họ không có đủ chứng cứ pháp lý vững chắc để kết tội, nhưng họ cũng không có đủ sự dũng cảm để tuyên “vô tội” cho bị cáo.

Công luận đặt câu hỏi tại sao Tòa án cấp phúc thẩm không dũng cảm tuyên một bản án vô tội ngay tại tòa? Nhất là khi văn bản pháp lý làm căn cứ buộc tội – là Quyết định số 22 đã bị cơ quan thẩm quyền bãi bỏ vì trái luật? 

Theo giới chuyên gia pháp lý, nếu Tòa án tuyên cô Nguyễn Thị Bình vô tội, hệ thống tố tụng cấp sơ thẩm sẽ phải xin lỗi công khai và đền bù khoản bồi thường oan sai khổng lồ theo luật định.

Để tránh vết nhơ trách nhiệm này, cơ quan tố tụng đã mượn tay “kỹ thuật hủy án” để điều tra lại, và coi đó như một chiếc phao cứu sinh nhằm để “câu giờ”.

Vì theo Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khi vụ án bị trả hồ sơ để điều tra lại, toàn bộ thời hạn điều tra và gia hạn điều tra được tính lại từ đầu. 

Với tội danh “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” trong vụ án này, thời hạn điều tra lại sẽ từ 3 đến 4 tháng và có thể gia hạn nhiều lần lên tới tối đa 8 tháng. 

Chưa hết, nếu cấp sơ thẩm vẫn cố gắng kết tội bằng một bản án nhẹ để hòa giải, thì bị cáo Bình sẽ không chịu và lại tiếp tục kháng cáo, khi đó vụ án lại quay lên cấp phúc thẩm. 

Vẫn theo giới chuyên gia pháp lý, Quyết định hủy án thực chất là hành vi dùng pháp luật để che chắn cho những sai sót của chính bộ máy tố tụng.

Đáng chú ý, vụ án của cựu Hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình kéo dài 13 năm một phần do lối mòn tư duy “đóng cửa bảo nhau” của các cơ quan tố tụng ở các địa phương. Tuy nhiên, sự quan tâm lớn của công luận đã trở thành một cuộc giám sát công khai đối với hệ thống tư pháp.

Để chặt đứt vòng lặp tàn nhẫn này, xã hội không thể tiếp tục trông chờ vào sự “tự soi, tự sửa” của các cơ quan tố tụng ở địa phương. 

Đã đến lúc Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cần trực tiếp vào cuộc, để yêu cầu Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao giải trình cụ thể trước Quốc hội về lý do một vụ án bị “ngâm tôm” trong suốt 13 năm. 

Cũng như, Ban Nội chính Trung ương cần chỉ đạo làm rõ dấu hiệu hình sự hóa quan hệ dân sự và việc bảo vệ sai lầm trong hệ thống tư pháp ở các cấp. 

Đồng thời, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cần rút toàn bộ Hồ sơ của vụ án này để trực tiếp kiểm tra; nếu nhận thấy không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cần dũng cảm ra quyết định đình chỉ vụ án ngay lập tức. 

Công luận mong muốn thấy nền tư pháp Việt Nam dám nhìn thẳng vào sai lầm để sửa chữa, chứ không chấp nhận một hệ thống tư pháp tìm mọi cách “bao che” cho nhau để đẩy dân chúng vào ngõ cụt.

Trà My – Thoibao.de